Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA: Cơ hội chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, giá trị cao

24/10/2026 08:59

Kinhte&Xahoi Việt Nam và 4 nước thuộc Khối Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do giữa hai bên (VEFTA) vào ngày 18-10-2026 tại Hà Nội, đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Không chỉ mang lại nhiều lợi ích thiết thực và chiến lược cho các bên mà còn hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững và giá trị cao hơn.

Mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư chất lượng cao

Đây là hiệp định thương mại tự do (FTA) thứ 18 được Việt Nam ký với các nước, với 14 phạm vi cam kết toàn diện bao trùm như thương mại hàng hóa (bao gồm thuế quan, hàng rào kỹ thuật trong thương mại, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật, hải quan và phòng vệ thương mại), thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, cạnh tranh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, giải quyết tranh chấp, thương mại và phát triển bền vững.

Hiện nay, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước EFTA đạt trung bình gần 2 tỷ USD mỗi năm. Các chuyên gia đánh giá đây là con số tích cực, nhưng vẫn còn nhiều dư địa để tăng trưởng.

Chẳng hạn, chỉ cần giành thêm một điểm phần trăm thị phần dệt may tại Thụy Sĩ, xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng thêm hơn 100 triệu USD mỗi năm. Mức tăng này không đến từ cạnh tranh về giá, mà từ việc đáp ứng tiêu chuẩn, định vị ở phân khúc chất lượng cao và xây dựng kênh phân phối trực tiếp.

“Thụy Sĩ có những thế mạnh về tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Na Uy có kinh nghiệm trong kinh tế biển và năng lượng; Iceland có thế mạnh trong một số lĩnh vực công nghệ và năng lượng tái tạo; Liechtenstein có các ngành công nghiệp chuyên môn hóa và dịch vụ phát triển. Những đặc điểm đó có thể tạo cơ sở để tìm kiếm các hình thức hợp tác phù hợp với nhu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng phát triển của Việt Nam” - TS Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế nhận định.

Cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa hai bên mang tính bổ trợ cao, phù hợp với thế mạnh và nhu cầu của mỗi bên. Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang thị trường EFTA các mặt hàng như thủy sản, giày dép, dệt may, máy móc thiết bị, điện tử và linh kiện; đồng thời nhập khẩu từ EFTA các sản phẩm như máy móc, thiết bị công nghiệp, hóa chất, dược phẩm và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Điều đó có nghĩa là Việt Nam và EFTA không cạnh tranh trực diện quá gay gắt, mà chủ yếu đáp ứng nhu cầu khác nhau của nhau. Đây là nền tảng rất thuận lợi để thương mại phát triển bền vững.

Hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và EFTA đang cho thấy xu hướng tích cực. Tính đến cuối năm 2025, Thụy Sĩ có 234 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 2,4 tỷ USD, trong khi Na Uy có 62 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 201 triệu USD. Đây là những con số cho thấy niềm tin của nhà đầu tư EFTA đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Đầu tư từ các nước EFTA không chỉ mang lại vốn, mà còn kéo theo công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại, tiêu chuẩn vận hành quốc tế, kết nối với thị trường châu Âu. Đó là những yếu tố mà Việt Nam đang rất cần trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo và năng suất lao động.

Triển khai hiệu quả các cam kết, nâng cao năng lực cạnh tranh

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng khẳng định, VEFTA mở ra không gian hợp tác mới trong thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và phát triển bền vững. Lợi ích của hiệp định không chỉ nằm ở con số kim ngạch thương mại hay số lượng dự án đầu tư mà còn là động lực để doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng, đổi mới quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Quan trọng hơn, hiệp định góp phần tạo ra động lực mới cho tăng trưởng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp năng lực và hướng nền kinh tế đến sự phát triển bền vững hơn.

Phó Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Khuất Quang Hưng chia sẻ, Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland thuộc nhóm thị trường có thu nhập và tiêu chuẩn cao nhất thế giới, với yêu cầu về an toàn thực phẩm, hóa chất, truy xuất nguồn gốc, lao động và môi trường tương đương hoặc cao hơn EU. Để đáp ứng những yêu cầu này, doanh nghiệp buộc phải nâng cấp quản trị chất lượng, công nghệ và quy trình sản xuất, qua đó tăng năng lực cạnh tranh thực chất chứ không chỉ dựa vào giá rẻ. Hiện diện thành công trên kệ hàng Thụy Sĩ hay Na Uy cũng là bằng chứng uy tín về chất lượng, giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và thuyết phục nhà nhập khẩu tại EU, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia hay Bắc Mỹ.

Trong cuộc trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ, Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam Thomas Gass cho biết, nhiều tập đoàn như Schindler, ABB, Bühler và Nestlé đã hoạt động tại Việt Nam trong nhiều thập kỷ, tham gia các lĩnh vực chế biến thực phẩm, thiết bị năng lượng, lưới điện thông minh, kiểm định chất lượng và công nghệ công nghiệp.

Những hoạt động này minh họa một hướng đi quan trọng: Thay vì chỉ xuất khẩu nguyên liệu hoặc hàng hóa gia công, Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào các công đoạn chế biến, sản xuất công nghệ cao và phân phối quốc tế. Với sự hiện diện của các doanh nghiệp có năng lực nghiên cứu và phát triển, cơ hội không chỉ giới hạn ở dòng vốn đầu tư trực tiếp mà còn bao gồm chuyển giao kinh nghiệm quản trị và phát triển hệ thống nhà cung cấp trong nước.

Trong lĩnh vực điện tử, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam Đỗ Thị Thúy Hương kỳ vọng, VEFTA sẽ tạo thêm động lực thu hút các dự án đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong những lĩnh vực như linh kiện điện tử, thiết bị công nghiệp, tự động hóa, công nghệ sản xuất tiên tiến, thiết bị y tế và các giải pháp phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Dù vậy, các cam kết mới không đồng nghĩa với việc dòng vốn đầu tư và công nghệ sẽ tự động chảy vào Việt Nam. Khả năng thu hút những dự án có giá trị gia tăng cao vẫn phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, năng lực của doanh nghiệp hỗ trợ trong nước và mức độ ổn định của môi trường kinh doanh.

Doanh nghiệp nên tận dụng đầu vào, công nghệ và vốn từ EFTA. Kế hoạch nhập khẩu máy móc, hóa chất và nguyên liệu chất lượng cao nên được xây dựng theo lộ trình giảm thuế để hạ chi phí và nâng cấp sản xuất. Đặc biệt, doanh nghiệp cần chuẩn bị cho cạnh tranh ngay trên sân nhà. Các doanh nghiệp thuộc những ngành chịu sức ép như phương tiện vận tải, phụ tùng, máy móc, hóa chất, tài chính và truyền thông cần tái cơ cấu và nâng cao năng suất... Đối với các nhà thầu trong nước, việc nâng cao năng lực đấu thầu điện tử và minh bạch là bước chuẩn bị cần thiết cho giai đoạn đàm phán mở cửa mua sắm công.

PGS.TS Ngô Trí Long kiến nghị cần tập trung vào 4 nhiệm vụ then chốt để doanh nghiệp Việt Nam đủ sức cạnh tranh khi thị trường mở cửa. Đó là hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi Hiệp định minh bạch, hiệu quả. Cần sớm hướng dẫn cụ thể về biểu thuế, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục hưởng ưu đãi sau khi Hiệp định có hiệu lực; Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; Gắn thu hút đầu tư với phát triển công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực chất lượng cao; Đánh giá hiệu quả FTA bằng chất lượng tăng trưởng với các chỉ tiêu cần theo dõi gồm tỷ lệ tận dụng ưu đãi, giá trị gia tăng nội địa, số doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng và mức độ tiếp nhận công nghệ mới...

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, Chính phủ Việt Nam cam kết tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình tận dụng cơ hội từ Hiệp định.

“Tôi tin rằng, thành công của Hiệp định Việt Nam - EFTA không được đo bằng số dòng thuế được cắt giảm, mà bằng những dự án được triển khai, công nghệ được chuyển giao, chuỗi cung ứng được hình thành và năng lực cạnh tranh được nâng lên” - Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng khẳng định.

hanoimoi

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

https://hanoimoi.vn/hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-efta-co-hoi-chuyen-doi-mo-hinh-tang-truong-theo-huong-ben-vung-gia-tri-cao-1762573.html