Đất đá thải mỏ đang được Quảng Ninh tận dụng thu hồi làm vật liệu san lấp cho các dự án. Ảnh Báo xây dựng
Tại Quảng Ninh, trong bối cảnh nhu cầu vật liệu san lấp phục vụ phát triển hạ tầng và kinh tế - xã hội luôn ở mức rất cao, việc triển khai kịp thời các cơ chế đặc thù có ý nghĩa hết sức thiết thực.
Trước đó, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 123/KH-UBND ngày 29/4/2025 về triển khai thi hành Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024, qua đó tăng cường kiểm soát công suất khai thác, tận thu tài nguyên, thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường và đóng cửa mỏ đúng quy định.
Song song với việc hoàn thiện hành lang pháp lý, Quảng Ninh đang kiên trì định hướng coi đất đá thải mỏ là nguồn tài nguyên thứ cấp, gắn chặt với mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành khai khoáng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh, từ năm 2025 đến nay, khối lượng đất đá thải mỏ được thu hồi trên địa bàn đạt khoảng 5 triệu m³ trong tổng số hơn 28,421 triệu m³ được phép thu hồi.
Nhiều khu vực mỏ đã được điều chỉnh giấy phép để thu hồi lượng đất đá phát sinh trong quá trình khai thác than với quy mô lớn như: Khu vực Cọc Sáu - Đèo Nai (TP Cẩm Phả trước đây): Khối lượng đất đá thải tại các bãi thải của Công ty CP Than Đèo Nai - Cọc Sáu khoảng 29,25 triệu m³; Khu vực khai thác của Công ty CP Than Hà Tu (TP Hạ Long trước đây): Khối lượng được cấp phép là 15 triệu m³, thời hạn đến ngày 15/8/2028; Khu vực Suối Lại của Công ty Than Hòn Gai (TP Hạ Long trước đây): Khối lượng khai thác đạt hơn 1,71 triệu m³, thời hạn đến ngày 25/11/2027.
Tính riêng tại ba khu vực trên, tổng khối lượng đất đá thải mỏ đã đạt hơn 45,9 triệu m³. Đây là nguồn vật liệu tiềm năng khổng lồ, đủ sức bổ sung đáng kể cho nhu cầu san lấp mặt bằng nếu được tổ chức khai thác, vận chuyển và sử dụng tuân thủ đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như quy định bảo vệ môi trường.
Trao đổi về định hướng này, ông Đỗ Xuân Điệp, Giám đốc Sở Xây dựng Quảng Ninh cho biết: Việc tận dụng đất đá thải mỏ là chủ trương lớn đã được địa phương và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) thúc đẩy trong nhiều năm qua.
Thay vì chỉ tập trung xử lý và lưu giữ tốn kém tại các bãi thải, nguồn đất đá này nay được đưa vào sử dụng làm vật liệu san lấp, vừa nâng cao hiệu quả tài nguyên, vừa giảm áp lực diện tích cho các bãi thải.
Trong buổi làm việc với TKV vào ngày 17/9/2026, UBND thành phố Quảng Ninh tiếp tục đề nghị Tập đoàn đẩy mạnh khai thác, kinh doanh đất đá thải mỏ để phục vụ kịp thời các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn.
Thực hiện chỉ đạo này, TKV đã yêu cầu các đơn vị trực thuộc khẩn trương hoàn thiện thủ tục, xây dựng phương án khai thác, định giá bán, ký kết hợp đồng mới và bố trí tuyến đường vận chuyển hợp lý, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn lao động và môi trường.
Đặc biệt, từ ngày 1/10/2026, các đơn vị của TKV đã chính thức vận hành khai thác, kinh doanh đất đá thải mỏ theo kế hoạch. Điểm sáng trong công tác quản lý là việc lắp đặt hệ thống camera giám sát hoạt động khai thác hoạt động liên tục 24/24 giờ, kết nối trực tiếp dữ liệu với lãnh đạo đơn vị, Tập đoàn và cơ quan quản lý nhà nước.
Dữ liệu này được lưu trữ phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra, bảo vệ tài sản và kiểm soát nghiêm ngặt toàn bộ quy trình khai thác, vận chuyển, tiêu thụ.
Nhu cầu san lấp mặt bằng cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội tại Quảng Ninh đang gia tăng mạnh mẽ, đòi hỏi chiến lược sử dụng tài nguyên tiết kiệm, gắn liền với bảo vệ cảnh quan và môi trường tự nhiên.
Theo Quy hoạch thành phố Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (được phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/2/2023 của Thủ tướng Chính phủ), tỉnh có tới 79 mỏ đất đồi với trữ lượng khoảng 250 triệu m³ và 31 khu vực khai thác đất đá thải mỏ than với trữ lượng khoảng 150 triệu m³ có thể đưa vào khai thác trong giai đoạn đến năm 2030.
Bên cạnh đó, địa phương còn sở hữu nguồn cát san lấp trữ lượng khoảng 49,3 triệu m³; gần 33 triệu m³ chất nạo vét từ các dự án khơi thông cảng biển, luồng lạch; cùng khoảng 35 triệu m³ tro, xỉ từ các nhà máy nhiệt điện có tiềm năng nghiên cứu sử dụng làm vật liệu san lấp theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.
Sự chủ động đa dạng hóa nguồn cung này không chỉ giúp Quảng Ninh giải quyết bài toán thiếu hụt vật liệu trước mắt, giảm sự phụ thuộc vào đất đồi truyền thống, mà còn tạo tiền đề vững chắc để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình hạ tầng.
Những giải pháp đồng bộ từ cơ chế chính sách đến hành động thực tế tiếp tục khẳng định quyết tâm của Quảng Ninh trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh, toàn diện và bền vững.
phapluatplus