Đưa nghiên cứu đến gần hơn với nhu cầu doanh nghiệp
Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa hoạt động nghiên cứu, đào tạo với sản xuất, kinh doanh. Trong mô hình liên kết “3 nhà”, Nhà nước tạo lập cơ chế và chính sách; viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp xác định nhu cầu, tham gia đầu tư, tiếp nhận và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Định hướng này được thể hiện trong Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các định hướng đều nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp, yêu cầu gắn đào tạo với nhu cầu thị trường và tăng cường hợp tác giữa các chủ thể.
Tuy nhiên, để sự phối hợp tạo ra kết quả rõ nét, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định vấn đề cần giải quyết, đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu đến thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và phát triển sản phẩm. Ở chiều ngược lại, viện nghiên cứu và trường đại học cần chủ động tìm hiểu nhu cầu sản xuất, kinh doanh, định hướng nghiên cứu sát thực tế và nâng cao khả năng ứng dụng của các công trình khoa học.
Cách tiếp cận này cũng góp phần gắn đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động. Khi doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu và đào tạo, người học có thêm cơ hội tiếp cận công nghệ, quy trình sản xuất và kỹ năng nghề nghiệp mà thị trường đang cần. Qua đó, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ có điều kiện phát triển năng lực thực hành, nghiên cứu và làm chủ công nghệ.
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu tham quan triển lãm tại Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 -
Gỡ vướng cơ chế để kết quả nghiên cứu ra thị trường
Một trong những trở ngại hiện nay là mức độ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp còn hạn chế. Số liệu được công bố tại hội thảo tháng 7/2026 cho thấy, chỉ khoảng 3,9% doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động này; trong nhóm doanh nghiệp vừa và lớn, tỷ lệ cũng chỉ đạt khoảng 5,1%. Tỷ lệ doanh nghiệp hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu ở mức tương tự.
Thực trạng trên cho thấy cần mở rộng động lực đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp trở thành một chủ thể thực chất trong hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển công nghệ. Muốn vậy, các bên phải có cơ chế phối hợp rõ ràng, xác định được trách nhiệm, nguồn lực và lợi ích ngay từ đầu.
Ngày 23/10, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Tại hội nghị, các đại biểu sẽ trao đổi về thực trạng hợp tác, những điểm nghẽn và giải pháp tăng cường kết nối hoạt động nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Nhiều mô hình thực tiễn trong phát triển công nghệ, nâng cao giá trị nông sản, thương mại hóa dược liệu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất cũng sẽ được chia sẻ.
Nội dung thảo luận tập trung vào những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hợp tác: doanh nghiệp tham gia xác định và đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ; cơ chế Nhà nước và doanh nghiệp cùng đầu tư, chia sẻ rủi ro; kết nối doanh nghiệp với đơn vị nghiên cứu phù hợp; phân định quyền sở hữu trí tuệ, tài sản và lợi ích của các bên; thúc đẩy đưa kết quả nghiên cứu thành công nghệ, sản phẩm có khả năng tiếp cận thị trường.
Trong đó, cơ chế đầu tư và chia sẻ rủi ro có ý nghĩa quan trọng bởi quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ thường đòi hỏi thời gian, kinh phí, trong khi khả năng thương mại hóa không phải lúc nào cũng chắc chắn. Việc xác lập rõ quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác kết quả và phương thức phân chia lợi ích cũng là điều kiện để các bên yên tâm hợp tác, tăng khả năng tiếp nhận và phát triển công nghệ.
Lấy sản phẩm và giá trị thực tế làm thước đo
Hiệu quả của liên kết “3 nhà” không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng biên bản ghi nhớ hay chương trình phối hợp được ký kết. Điều quan trọng hơn là nghiên cứu có giải quyết được vấn đề của doanh nghiệp hay không, công nghệ có được chuyển giao và ứng dụng hay không, sản phẩm có thể thương mại hóa và tạo ra giá trị kinh tế hay không.
Để đạt mục tiêu này, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế khuyến khích hợp tác, tạo điều kiện cho các bên cùng đầu tư và chia sẻ rủi ro. Viện nghiên cứu, trường đại học cần nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng, chủ động kết nối với thị trường; doanh nghiệp cần coi đầu tư cho R&D và tiếp nhận công nghệ là một phần trong chiến lược nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.
Khi mối liên kết được hình thành xuyên suốt từ xác định nhu cầu, nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa, nguồn lực khoa học sẽ có thêm cơ hội chuyển hóa thành giá trị thực tế. Đây cũng là nền tảng để phát triển đội ngũ nhân lực có năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn mới.
nguonluc