Những dấu chân làm nên lịch sử
Giữa thành phố Lanester ở miền Tây nước Pháp, Đại lộ Hồ Chí Minh từ lâu đã trở thành địa chỉ quen thuộc của người dân địa phương và cộng đồng người Việt. Với nhiều kiều bào, đó không chỉ là một địa danh mà còn là điểm kết nối với lịch sử và cội nguồn dân tộc. Thế hệ trẻ gốc Việt sinh ra tại Pháp tìm thấy ở đó một phần ký ức về quê hương, trong khi nhiều người dân sở tại coi sự hiện diện của tên tuổi Hồ Chí Minh là một phần lịch sử địa phương.
Ngày 5/6/1911, từ bến Nhà Rồng – cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, ra đi trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville để thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Ảnh Tư liệu TTXVN.
Chị Hiền Rogues chia sẻ lần đầu nhìn thấy dòng chữ “Avenue Ho Chi Minh”, chị có cảm giác như tìm lại một phần quê hương giữa đất Pháp. Với em Alice Kernen mang hai dòng máu Việt - Pháp, đại lộ này giúp thế hệ trẻ gốc Việt hiểu hơn về lịch sử và văn hóa dân tộc. Bác sĩ Gildas Tréguier, Tổng thư ký Liên đoàn Y tế Pháp - Việt, coi đây là minh chứng cho dấu ấn sâu đậm của Việt Nam trong đời sống địa phương, trong khi bà Martine Panitier và nhà nghiên cứu Trần Thu Dung cho rằng đó là biểu tượng của tình hữu nghị, hòa bình và khát vọng độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại.
Sự hiện diện bền bỉ ấy không phải là ngẫu nhiên. Chính trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng cho con đường giải phóng dân tộc khi tiếp cận Luận cương của lãnh tụ V.I. Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp ở Tours năm 1920, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Những năm tháng ấy đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa quyết định trong hành trình tìm đường cứu nước của Người.
Nếu nước Pháp là nơi Người tìm thấy con đường cách mạng, thì Liên Xô là nơi niềm tin ấy tiếp tục được củng cố. Tại quê hương của Cách mạng Tháng Mười, Người tham dự nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, trong đó có Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản năm 1924. Những hoạt động này không chỉ giúp Người hoàn thiện nhận thức lý luận mà còn góp phần đặt nền móng cho tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân Việt Nam với các dân tộc tiến bộ trên thế giới.
Chuyến đi kéo dài qua nhiều châu lục ấy không chỉ mở ra con đường giải phóng dân tộc cho Việt Nam mà còn tạo nên một hành trình kết nối đặc biệt giữa Việt Nam với thế giới. Hơn một thế kỷ sau, những dấu chân năm ấy vẫn hiện diện trong ký ức của bạn bè quốc tế, trong các địa danh mang tên Hồ Chí Minh, trong những câu chuyện được lưu truyền qua nhiều thế hệ và trong những giá trị về hòa bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác mà Việt Nam tiếp tục theo đuổi.
Giáo sư Shimizu Masaaki thuộc Đại học Osaka (Nhật Bản) nhận định điều đặc biệt ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người không tiếp cận thế giới như một người đến từ một quốc gia thuộc địa, mà thông qua những trải nghiệm thực tiễn xuyên quốc gia. Việc trực tiếp quan sát các xã hội phương Tây, các vùng thuộc địa và phong trào công nhân quốc tế đã giúp Người hình thành một tầm nhìn mang tính toàn cầu, điều hiếm thấy ở Châu Á đầu thế kỷ XX. Theo ông, ý nghĩa sâu xa của hành trình năm 1911 nằm ở nhận thức rằng quá trình hiện đại hóa và giải phóng dân tộc luôn gắn liền với việc học hỏi thế giới thông qua trải nghiệm thực tế và đối thoại quốc tế.
Ý nghĩa đó đang được minh chứng tại mỗi mảnh đất in dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước. Hơn một thế kỷ sau ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành đặt chân tới thành phố cảng Port Said của Ai Cập, nhiều học giả vẫn nhắc tới chuyến dừng chân ấy như một cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành tư tưởng của Người.
Theo Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Ai Cập Salah Adly Abdelhafiz, chính những trải nghiệm tại Port Said và nhiều nơi khác trên thế giới đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức sâu sắc rằng tình cảnh áp bức thuộc địa không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà là thực trạng chung của nhiều dân tộc, từ đó hình thành tư duy quốc tế về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức.
Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche Treville tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu.
Trong hành trình tìm đường cứu nước, Trung Quốc là nơi những nhận thức cách mạng được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Tại Quảng Châu, tháng 6/1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại Hương Cảng (Hong Kong) mùa Xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo chuyên gia lịch sử Tạ Siêu Đức, những dấu chân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Trung Quốc là minh chứng sinh động cho tinh thần kiên trì, ý chí vượt khó và tầm nhìn chiến lược của Người trong hành trình tìm đường cứu nước.
Bước ngoặt lịch sử
Nhận xét về quyết định sang phương Tây tìm hiểu của chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, Phó giáo sư, Tiến sý Lý Việt Quang, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, đây là một quyết định lịch sử. Với việc chọn hướng đi sang phương Tây, tìm hiểu thực chất những điều ẩn giấu sau khẩu hiệu mỹ miều “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để quan sát một chân trời mới, từ đó đưa lại cho Người những tư duy rất mới. Người từng băn khoăn: “cũng có những người Pháp tốt”, “Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta”.
Trong vòng 10 năm, từ 1911 đến năm 1920, Người đã đến nhiều nơi trên thế giới. Bàn chân của Người đã từng in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt, Người đã dừng chân khảo sát khá lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp. Qua những chuyến đi, gặp những người dân ở các giai cấp, Người thực sự hiểu rằng, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và Nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa.
Cũng chính nhờ chọn hướng đi đúng đắn sang phương Tây, Hồ Chí Minh được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa mới, tư tưởng mới. Bằng tư duy độc lập, tự chủ, Người đã gạn lọc và tiếp thu những hạt nhân hợp lý, làm giàu thêm vốn văn hóa của bản thân, để vươn lên tầm cao của văn hóa nhân loại, trở thành nhà văn hóa vừa mang đậm chất Á Đông, vừa hết sức cởi mở, hòa hợp với văn hóa phương Tây.
Đặc biệt, nhờ chọn hướng đi sang phương Tây, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để gặp gỡ, nghiên cứu và tiếp thu chủ nghĩa Mác Lê-nin, thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng, giúp giải quyết triệt để sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng Tháng Mười mở ra, Người xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, khám phá ra chân lý lịch sử: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Tàu Latouche Tréville, nơi chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu.
Người đã viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế III “.
Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Danh Tiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đánh giá, việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản, thể hiện tầm nhìn chiến lược và phù hợp với xu thế thời đại của Người; đồng thời đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân lao động. Đến thời điểm này, cách mạng vô sản là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để nhất. Cuộc cách mạng đó không chỉ giải phóng giai cấp, mà gắn liền với nó là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.
Kiên định đi theo con đường đó, sau hơn 30 năm bôn ba hành trình cứu nước, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là minh chứng cho sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện.
Từ 25 - 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc (tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp) tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương. Ảnh Tư liệu TTXVN.
Đến nay, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội tiếp tục là đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn sinh động của sự nghiệp đổi mới là minh chứng hùng hồn khẳng định chân lý: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của Nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
“Trong bối cảnh hiện nay, Đảng chủ trương càng phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, độc lập dân tộc là mục tiêu, tiền đề và là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không có độc lập dân tộc thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội; còn xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm tăng cường nguồn lực vật chất – kỹ thuật ngày càng dồi dào hơn; xây dựng đất nước hùng cường, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc để giữ vững độc lập dân tộc”, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Danh Tiên nhận định.
Di sản của hòa bình
Điều đáng chú ý là sau hơn một thế kỷ, giá trị của hành trình tìm đường cứu nước không chỉ được lưu giữ trong các di tích hay địa danh lịch sử. Những giá trị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi - độc lập dân tộc, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và đoàn kết quốc tế - vẫn tiếp tục được bạn bè quốc tế nhắc đến như những thông điệp có ý nghĩa đối với thế giới đương đại.
Tròn 115 năm sau ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng, từ những địa danh lưu dấu chân Người tại Pháp, Nga, Anh, Trung Quốc, Thái Lan, Ai Cập, Mỹ... những giá trị mà Người theo đuổi vẫn tiếp tục được lan tỏa. Từ khát vọng giành độc lập dân tộc năm 1911 đến khát vọng phát triển đất nước hùng cường và hội nhập sâu rộng trong thế kỷ XXI là một mạch chảy xuyên suốt. Trong một thế giới nhiều biến động, Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động tham gia và đóng góp vào các cơ chế khu vực và toàn cầu; thúc đẩy đối thoại, hợp tác và lòng tin giữa các quốc gia.
Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Hong Kong và Macau (Trung Quốc) Lê Đức Hạnh gọi đó là một dạng “di sản mềm” đặc biệt. Đây không chỉ là ký ức lịch sử mà còn là nguồn lực tinh thần tiếp tục kết nối các thế hệ người Việt với cội nguồn, đồng thời góp phần tăng cường sự hiểu biết và gắn kết giữa Việt Nam với Nhân dân các nước.
Nhà nghiên cứu chính trị Joe Pateman thuộc Đại học York (Canada) cũng cho rằng di sản về đoàn kết, hữu nghị và hợp tác quốc tế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại vẫn giữ nguyên giá trị tham chiếu trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nhiều biến động. Những thông điệp về hòa bình, độc lập dân tộc, đối thoại và hợp tác cùng phát triển vẫn có khả năng hóa giải các thách thức của thời đại ngày nay.
Hành trình của Người còn là nguồn cảm hứng vô tận cho các phong trào cách mạng trên thế giới, như cách mà Phó Chủ tịch Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela (PSUV), ông Jesús Faria gọi Người là “biểu tượng bất tử của phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX”.
Hình ảnh con tàu Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ngày 5/6/1911. Ảnh /btgtu.camau.dcs.vn.
Ngày nay, tại Nga, những quảng trường, tượng đài và địa danh mang tên Hồ Chí Minh ở thành phố St. Petersburg (trước đây là Petrograd) hay Vladvostok, cũng là những điểm dừng chân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1923-1934, vẫn là minh chứng sinh động cho mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc. Theo các nhà nghiên cứu và những người bạn Nga của Việt Nam, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ gắn với lịch sử mà còn là biểu tượng của tình hữu nghị, sự thủy chung và khát vọng hòa bình. Như lời Thống đốc St. Petersburg Aleksandr Beglov, quan hệ hữu nghị do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng năm xưa đang tiếp tục đơm hoa kết trái qua hợp tác toàn diện trong thời đại mới.
Tại Algeria, tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn được nhắc đến với sự kính trọng đặc biệt. Đối với nhiều thế hệ người Algeria, Hồ Chủ tịch không chỉ là lãnh tụ của Nhân dân Việt Nam mà còn là biểu tượng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Những đại lộ mang tên Hồ Chí Minh ở Algiers hay Oran, cùng các công trình tưởng niệm được xây dựng trong những năm gần đây, là minh chứng cho sự trân trọng mà nhân dân Algeria dành cho Người.
Nhìn lại 115 năm trước, hành trình bắt đầu từ Bến Nhà Rồng không chỉ là một dấu mốc lịch sử của dân tộc Việt Nam. Đó còn là câu chuyện về sự kết nối giữa Việt Nam và thế giới, được gieo mầm bằng khát vọng độc lập, tự do và đang được vun đắp bằng khát vọng phát triển, hội nhập và đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Đó cũng chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối hành trình mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi đầu cách đây 115 năm.
nguonluc