Xem nhiều

Hồ Gươm: Những hình ảnh đẹp và chưa đẹp

Hồ Gươm như một bức tranh thủy mặc, làm say đắm lòng người. Thế nhưng, bức tranh đẹp xinh ấy đang bị "bôi bẩn" bởi những hình ảnh chưa đẹp do ý thức của chưa cao của một số du khách.

Quảng Ninh: Khai mạc Khóa tu mùa hè ở chùa Ba Vàng

Tối 9/6 vừa qua tại chùa Ba Vàng, TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã diễn ra lễ khai mạc Khóa tu mùa hè. Buổi khai mạc có sự tham dự của các vị đại biểu, các tăng ni, phật tử chùa Ba Vàng.

Góc nhìn ý nghĩa của chuyên gia về chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045

22/02/2026 09:52

Kinhte&Xahoi Dưới góc nhìn của các chuyên gia thì, chiến lược phát triển văn hóa, quá trình xây dựng Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045; việc rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển nhanh và phức tạp của văn hóa trong bối cảnh mới… rất đa dạng và nhiều tầng ý nghĩa.

PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội 

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12/11/2021 khẳng định hệ thống quan điểm xuyên suốt: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội;… Phát huy mọi nguồn lực phát triển để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Góc nhìn ý nghĩa của chuyên gia về chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Ảnh minh họa, nguồn internet.

Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 được ban hành nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách hiện nay về văn hóa. Một lần nữa, vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước lại được nhấn mạnh cả ở tầm lý luận và thực tiễn triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của chương trình.

Xuất khẩu văn hóa và nhập khẩu văn hóa ở Việt Nam được đẩy mạnh. Xuất khẩu văn hóa của nước ta đã được cải thiện rõ rệt: các đoàn nghệ thuật giao lưu với các nước trên thế giới được tăng cường nhiều hơn, ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam tại các nước được tổ chức sôi nổi hơn. Hợp tác, giao lưu văn hóa giữa các thành phố, các quốc gia được tổ chức thường xuyên hơn. Giao lưu giữa các tổ chức nghệ thuật, các đoàn nghệ thuật ngày càng nhiều.

Nhập khẩu văn hóa vào Việt Nam cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có nhiều loại hình văn hóa được nhập khẩu, tập trung chủ yếu là phim ảnh, thời trang, âm nhạc,... từ đó tăng cường tiếp nhận những giá trị văn hóa của thế giới, làm phong phú và giàu có thêm kho tàng văn hóa dân tộc.

Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Bản quyền, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch: Công nghiệp văn hóa Việt Nam tạo ra các sản phẩm văn hóa mang bản sắc riêng

Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 có những điểm mới.

Đầu tiên, chiến lược này xác định lại số lượng các ngành công nghiệp văn hóa chỉ còn 10 ngành, trước đây có 12 ngành. Việc này giúp tập trung hơn, bao quát hơn. Các giá trị tinh hoa văn hóa, nghệ thuật truyền thống dân tộc được tập trung. Nếu không có giá trị này, sẽ không có công nghiệp văn hóa Việt Nam. Nhìn ra thế giới, tất cả sản phẩm được thế giới biết đến đều thông qua giá trị văn hóa, tạo bản sắc riêng, thu hút sự chú ý của quốc tế đến với chúng ta.

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam: Yêu cầu cấp thiết cần được nghiên cứu, phân tích nghệt huật một cách hệ thống

Nghệ thuật là lĩnh vực rộng, luôn chịu tác động mạnh mẽ từ những biến đổi kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế. Trong những thập niên qua, phát triển nghệ thuật ở Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực: Hệ sinh thái hoạt động ngày càng phong phú; chất lượng sáng tác được nâng cao; chủ thể tham gia sáng tạo đa dạng; cơ hội tiếp cận và thụ hưởng nghệ thuật của công chúng được mở rộng; thị trường nghệ thuật bước đầu hình thành và phát triển.

Góc nhìn ý nghĩa của chuyên gia về chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Ảnh minh họa, nguồn internet.

Bà Jimin Jeon - Giám đốc Poem Music, Hàn Quốc: Giao lưu văn hóa là yếu tố then chốt để bảo tồn và phát triển âm nhạc truyền thống

Giao lưu văn hóa là yếu tố then chốt để bảo tồn và phát triển âm nhạc truyền thống nói riêng, nghệ thuật nói chung. Dự án Koviet Sinawi được Poem Music triển khai từ năm 2024 là một sáng tạo hợp tác giữa Hàn Quốc và Việt Nam, nhằm kết hợp Đờn ca tài tử Việt Nam và Sinawi Hàn Quốc để tạo ra một tác phẩm dàn nhạc hiện đại, đồng thời thiết lập mô hình hợp tác quốc tế bền vững.

Điểm cốt lõi của dự án chính là nghệ thuật ứng tác – một yếu tố đặc trưng trong âm nhạc truyền thống của cả Hàn Quốc và Việt Nam. Đây không chỉ là kỹ thuật biểu diễn mà còn là một hình thái tư duy sáng tạo, thể hiện khả năng phản ứng tức thời, linh hoạt và cá nhân hóa của nghệ sĩ trong không gian âm nhạc.

Qua đó, khi kết hợp hai truyền thống này, dự án đã đặt ứng tác vào vị trí của ngôn ngữ văn hóa. Các nghệ sĩ Hàn – Việt cùng nhau tìm điểm tương đồng trong hệ thống giai điệu, thanh âm và tiết tấu, từ đó tạo ra những hòa âm mới – nơi chất liệu âm nhạc truyền thống được chuyển hóa thành sáng tạo đương đại. Chính yếu tố ứng tác đã giúp cho sản phẩm không bị đóng khung mà luôn mở ra khả năng làm mới, phản ứng tinh thần thời đại trong khuôn khổ gìn giữ bản sắc văn hóa.

GS.TS. Từ Thị Loan - Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam: Đầu tư hạ tầng công nghệ, phát triển nhân lực sáng tạo, bảo hộ quyền tác giả

Để thúc đẩy phát triển các ngành nghệ thuật trong bối cảnh chuyển đổi số, đòi hỏi phải có chính sách nhất quán về đầu tư hạ tầng công nghệ, phát triển nhân lực sáng tạo, bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số cũng như cơ chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp văn hóa. Đặc biệt, việc thúc đẩy các nền tảng trực tuyến, phát triển bảo tàng – nhà hát – không gian nghệ thuật số và gắn với công nghệ nội dung số là hướng đi phù hợp với xu thế hiện nay.

Góc nhìn ý nghĩa của chuyên gia về chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Ảnh minh họa, nguồn internet.

Đối với Việt Nam, bài học quan trọng nhất là cần coi chuyển đổi nghệ thuật là bộ phận hữu cơ của chuyển đổi số văn hóa quốc gia, gắn với Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và Chương trình chuyển đổi số quốc gia. Việc hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực sáng tạo số cùng với chính sách hỗ trợ khởi nghiệp và hợp tác quốc tế sẽ là điều kiện tiên quyết giúp Việt Nam xây dựng nền nghệ thuật hiện đại, mở, hội nhập và giàu bản sắc trong kỷ nguyên số...

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội: Văn hóa hoàn toàn có thể trở thành một động lực trực tiếp của phát triển

Trong 2 năm 2024–2025, chúng ta chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của văn hóa Việt Nam, mà âm nhạc và điện ảnh là những điểm sáng tiêu biểu. Những concert quy mô lớn như “Anh trai vượt ngàn chông gai”, “Anh trai say hi”, “Tổ quốc trong tim” hay những bộ phim lay động trái tim hàng triệu khán giả như “Mưa đỏ”, “Địa đạo” đã tạo nên cảm xúc, niềm tin và niềm tự hào sâu sắc về sức sáng tạo Việt Nam. Đó không chỉ là thành công nghệ thuật hay doanh thu, mà còn là minh chứng cho nội lực văn hóa, cho khát vọng vươn ra thế giới của người Việt trẻ trong kỷ nguyên hội nhập và số hóa.

Tôi cho rằng, những thành tựu vừa qua chính là lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng văn hóa hoàn toàn có thể trở thành một động lực trực tiếp của phát triển, chứ không chỉ dừng ở vai trò nền tảng tinh thần. Vì vậy, văn kiện cần tiếp tục nhấn mạnh ba định hướng lớn.

Thứ nhất, xây dựng con người sáng tạo và hệ sinh thái sáng tạo. Thành công của điện ảnh và âm nhạc là thành công của tài năng, của môi trường trân trọng sáng tạo, dám làm những điều mới. Đường lối của chúng ta cần khuyến khích mạnh mẽ giáo dục nghệ thuật, đầu tư cho tài năng trẻ, và xây dựng hệ sinh thái sáng tạo toàn diện – từ đào tạo, sản xuất, phân phối đến khán giả.

Thứ hai, lấy thị trường làm động lực nhưng văn hóa làm giá trị cốt lõi. Các sản phẩm thành công đều khẳng định, khi chúng ta kể câu chuyện của chính mình, mang bản sắc dân tộc làm điểm tựa, kết hợp công nghệ hiện đại, chúng ta sẽ chạm đến công chúng trong nước và quốc tế. Văn kiện cần tiếp tục thể hiện rõ tinh thần “phát triển văn hóa song hành với bảo vệ giá trị, chuẩn mực”, tạo môi trường thị trường lành mạnh, cạnh tranh công bằng, và phù hợp với bản sắc Việt Nam.

Thứ ba, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để hình thành ngành công nghiệp văn hóa có quy mô. Nhìn vào thành tựu gần đây, có thể nói rằng văn hóa Việt Nam đang bước vào một thời kỳ mới – thời kỳ tự tin, hội nhập và kiến tạo sức mạnh mềm quốc gia. Đại hội XIV là cơ hội để chúng ta thiết kế thể chế, chính sách mạnh mẽ hơn, nuôi dưỡng dòng chảy sáng tạo ấy để không chỉ có thêm nhiều “Mưa đỏ”, nhiều concert mang tầm quốc gia, mà còn kiến thiết một nền công nghiệp văn hóa thực sự hùng mạnh, góp phần vào khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Góc nhìn ý nghĩa của chuyên gia về chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Ảnh minh họa, nguồn internet.

Từ những tín hiệu ấy, chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng cơ hội phía trước. Công nghiệp văn hóa Việt Nam đang bước vào thời kỳ “bứt tốc”, nơi bản sắc trở thành tài sản, sáng tạo trở thành sức mạnh, và công nghệ trở thành công cụ mở đường. Thế giới ngày nay không chỉ cạnh tranh về kinh tế, mà còn cạnh tranh về hình ảnh, câu chuyện, giá trị. Nếu trước đây chúng ta đi tìm chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu, thì bây giờ, văn hóa cho phép Việt Nam bước vào chuỗi giá trị sáng tạo toàn cầu – nơi tri thức, thẩm mỹ, giá trị nhân văn và bản sắc dân tộc có thể chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế và uy tín quốc gia.

Cơ hội ấy càng rõ rệt khi Đảng ta đã xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn, đồng thời nhấn mạnh chuyển trọng tâm từ quản lý sang kiến tạo hệ sinh thái văn hóa. Điều đó nghĩa là, chúng ta đang xây dựng một môi trường mà tài năng được phát hiện, nuôi dưỡng và lan tỏa; một thị trường sáng tạo lành mạnh, bền vững; và một hệ thống chính sách coi văn hóa là đầu tư chiến lược, không phải chi phí.

Tôi tin, trong những năm tới, nếu tiếp tục phát huy niềm tự hào dân tộc, khích lệ sáng tạo, và xây dựng cơ chế hỗ trợ bài bản hơn – từ tài trợ sáng tác, quỹ đầu tư văn hóa, đến trung tâm sáng tạo, đào tạo tài năng trẻ và chiến lược truyền thông quốc gia – thì những thành tựu như chiến thắng tại Intervision hay hiện tượng See Tình sẽ không còn là “điểm sáng đơn lẻ”, mà trở thành dòng chảy tự nhiên của một quốc gia coi văn hóa là sức mạnh cạnh tranh trong kỷ nguyên toàn cầu.

Nghệ sỹ Nguyễn Văn Đông, người có 30 năm làm việc ở lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, biểu diễn có nhiều dự báo bứt phá cho âm nhạc và điện ảnh Việt:

Cụ thể, trong 2 đến 3 năm tới, âm nhạc và điện ảnh Việt Nam sẽ tiếp tục bứt phá không phải là nhận định cảm tính, mà dựa trên nền tảng thực tiễn rất rõ: quy mô thị trường khán giả tăng nhanh, sự trưởng thành của lực lượng sáng tạo trẻ, sự hình thành các mô hình sản xuất – phân phối chuyên nghiệp hơn, và đặc biệt là tinh thần tự tin văn hóa mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đây là giai đoạn mà chúng ta phải nắm bắt cơ hội để chuyển từ những thành công mang tính hiện tượng sang những thành tựu mang tính thể chế và hệ sinh thái.

Muốn có nhiều tác phẩm vươn tầm quốc tế, chúng ta cần ưu tiên ba phương diện. Trước hết là hoàn thiện thể chế để khuyến khích sáng tạo. Cần những chính sách mạnh dạn hơn về quỹ đầu tư văn hóa, cơ chế ưu đãi thuế, đặt hàng sản phẩm nghệ thuật công, hỗ trợ phát hành quốc tế, cùng những hành lang pháp lý đồng bộ về bản quyền, thương mại hóa sáng tạo, bảo vệ tài sản trí tuệ. Văn hóa chỉ có thể thành ngành công nghiệp khi nghệ sỹ yên tâm sáng tác, khi doanh nghiệp yên tâm đầu tư, và khi các tiêu chuẩn nghề nghiệp, đạo đức, bản quyền được bảo vệ.

Thứ hai là đầu tư cho hạ tầng và công nghệ sáng tạo. Thế giới đang chứng kiến sự hòa quyện giữa nghệ thuật và công nghệ: trí tuệ nhân tạo, vũ trụ số, công nghệ trình diễn, âm thanh – ánh sáng hiện đại, livestream quy mô toàn cầu. Việt Nam hoàn toàn có thể đi nhanh bằng cách thúc đẩy các trung tâm công nghiệp văn hóa, trường quay tiêu chuẩn quốc tế, trung tâm biểu diễn hiện đại, và nền tảng số do người Việt phát triển để đưa sản phẩm ra thế giới. Đây không chỉ là câu chuyện của đầu tư vật chất mà là đầu tư cho năng lực cạnh tranh tương lai.

Góc nhìn ý nghĩa của chuyên gia về chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Ảnh minh họa, nguồn internet.

Thứ ba, và quan trọng nhất, là phát triển con người. Không thể có điện ảnh tầm quốc tế nếu thiếu biên kịch giỏi, đạo diễn tài năng, kỹ sư âm thanh – ánh sáng, nhà sản xuất và đội ngũ truyền thông chuyên nghiệp. Không thể có nền âm nhạc lớn nếu thiếu nhạc sỹ, nhà sản xuất âm nhạc, nhà quản lý tài năng, và hệ thống đào tạo liên thông quốc tế. Chúng ta cần chiến lược đào tạo chuyên sâu, học bổng tài năng, hợp tác quốc tế, cũng như khuyến khích nghệ sỹ trẻ dấn thân, mạo hiểm, kể câu chuyện Việt bằng ngôn ngữ toàn cầu.

Nhìn từ góc độ tầm nhìn, chúng ta không chỉ theo kịp xu thế, mà hoàn toàn có thể định hình xu thế mới nếu biết phát huy bản sắc – điều mà các nền công nghiệp văn hóa lớn trên thế giới đều đang tìm kiếm để làm mới chính mình. Khi Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới với tinh thần “khát vọng hùng cường”, ngành văn hóa có trách nhiệm đồng hành bằng cách tạo nên những biểu tượng văn hóa, những tác phẩm tầm vóc, và những câu chuyện lan tỏa giá trị Việt Nam ra thế giới.

Bên cạnh những tín hiệu đáng mừng, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những điểm nghẽn để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững và xứng tầm. Thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở nguồn lực hay công nghệ, mà sâu xa hơn là thể chế và môi trường phát triển. Dù đã có nhiều thay đổi tích cực, nhưng hệ thống chính sách dành cho văn hóa vẫn còn phân tán, thiếu các cơ chế đột phá về vốn, thuế, đầu tư công – tư, đặt hàng sáng tạo, cùng các quy chuẩn rõ ràng về nghề nghiệp, đạo đức và bản quyền trong môi trường số. Đây là những nút thắt mà chúng ta phải tháo gỡ nhanh nếu muốn cạnh tranh trên sân chơi quốc tế.

Một khó khăn nữa là đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho công nghiệp văn hóa. Thị trường đang phát triển rất nhanh, nhưng lực lượng làm nghề – từ biên kịch, đạo diễn, nhà sản xuất, kỹ thuật viên, quản lý nghệ sĩ, truyền thông… đến đội ngũ quản lý văn hóa – chưa đáp ứng đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Cần một chiến lược đào tạo bài bản, hiện đại, liên thông quốc tế; cần biến các trường văn hóa – nghệ thuật thành những “vườn ươm sáng tạo”, nơi kết hợp giữa giảng dạy, thực hành, khởi nghiệp văn hóa và công nghệ.

Góc nhìn ý nghĩa của chuyên gia về chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Ảnh minh họa, nguồn VGP.

Ngoài ra, hệ sinh thái sáng tạo vẫn cần được mở rộng mạnh mẽ hơn nữa. Các thiết chế văn hóa chưa thực sự trở thành động lực cho đổi mới sáng tạo; sự kết nối giữa chính sách, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và nghệ sĩ vẫn còn rời rạc; cơ chế xã hội hóa cần minh bạch, thông thoáng hơn. Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, vấn đề quản trị nội dung, bảo vệ bản sắc, và nuôi dưỡng thị hiếu công chúng phải được quan tâm đúng mức để vừa khuyến khích sáng tạo tự do, vừa bảo đảm giá trị văn hóa, đạo đức và bản sắc dân tộc.

Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo đang trở thành động lực tăng trưởng quan trọng trên toàn cầu, với đóng góp khoảng 3,1% GDP và 6,2% việc làm toàn cầu theo UNESCO, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021–2025 đã có bước phát triển tiệm cận xu hướng chung của thế giới.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2018–2022, đóng góp trung bình của các ngành công nghiệp văn hóa vào giá trị gia tăng đạt gần 3,5%/năm, cao hơn mức đóng góp trung bình toàn cầu.

Nhưng chính những thách thức ấy cũng mở ra cơ hội để chúng ta đổi mới tư duy và hành động mạnh mẽ hơn. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định rõ văn hóa là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển. Đây là thời điểm vàng để thể chế hóa tầm nhìn đó bằng những chính sách đột phá, bằng việc kiến tạo môi trường sáng tạo cởi mở, hiện đại, nhân văn, nuôi dưỡng tài năng và khuyến khích xã hội đầu tư vào văn hóa.

Tôi luôn tin tưởng, với tinh thần đổi mới sáng tạo, với khát vọng đưa văn hóa Việt Nam vươn tầm thế giới, và với niềm tự hào dân tộc ngày càng lớn trong mỗi người dân – đặc biệt là thế hệ trẻ – công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ trở thành một trụ cột quan trọng trong mô hình tăng trưởng mới, đóng góp vào mục tiêu xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, giàu bản sắc và có tầm vóc quốc tế.

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Viện Văn hoá, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam: Gắn kết chặt chẽ hơn với phát triển du lịch văn hoá, giáo dục cộng đồng

Các thiết chế văn hoá, không gian sáng tạo, trung tâm nghệ thuật, rạp chiếu phim, bảo tàng, thư viện, không gian biểu diễn… từng bước được nâng cấp hoặc xây dựng mới, góp phần bảo đảm quyền hưởng thụ văn hóa và nâng cao khả năng tiếp cận các giá trị văn hóa trong nước và quốc tế của người dân. 

Việc xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh.

Công tác bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hoá, cả vật thể và phi vật thể, được gắn kết chặt chẽ hơn với phát triển du lịch văn hoá, giáo dục cộng đồng và các ngành công nghiệp sáng tạo, qua đó tạo ra những giá trị mới cho đời sống xã hội và đóng góp tích cực cho phát triển bền vững.

nguonluc

;
Bình luận
Họ tên :
Email :
Lời bình :
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper 
 
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.
   
Mobile
TieuDe
Nhập mã bảo mật :  
Gửi bình luận
     
Mới nhất | Cũ nhất
Không tìm thấy bản ghi nào

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Ngày Xuân kể chuyện Bác Hồ

“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Với dân tộc ta, mùa xuân không chỉ thể hiện cho sự giao mùa, sự kết thúc của một năm cũ bước sang năm mới mà mùa xuân còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc.

Con ngựa trong đời sống, tâm thức người Việt

Trong kho tàng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, hiếm có hình ảnh động vật nào xuất hiện vừa phổ biến, đa dạng lại vừa giàu sức gợi như hình ảnh con ngựa. Từ đời sống lao động sản xuất, tín ngưỡng tâm linh, nghệ thuật tạo hình, văn học – âm nhạc đến giao tiếp thường nhật, hình tượng ngựa hiện diện với nhiều tầng nghĩa, nhiều sắc thái, phản ánh chiều sâu tư duy và thế giới quan của người Việt qua các thời kỳ lịch sử.

Giấc mơ ngựa sắt - Khát vọng vươn mình trong năm Ngọ

Câu thơ “Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt” trong “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” của Chế Lan Viên từ lâu đã trở thành một hình tượng mang sức công phá...Ẩn sau hình ảnh “ngựa sắt” - phương tiện thần kỳ đưa Thánh Gióng từ một đứa bé câm lặng trở thành anh hùng - là biểu tượng của sự chuyển hóa mạnh mẽ, của một bước nhảy vọt trong hành trình sống.

https://nguonluc.com.vn/goc-nhin-y-nghia-cua-chuyen-gia-ve-chien-luoc-phat-trien-van-hoa-den-nam-2030-tam-nhin-2045-a23393.html

Scroll

Kênh thông tin giới trẻ - gioitrenews.com